Home Giáo dục Danh xưng trường quốc tế có đang b.ị lập lờ?

Danh xưng trường quốc tế có đang b.ị lập lờ?

51 min read
0
0
36

Trong buổi họp báo về sự kiện g.ây ch.ấn đ.ộng “h.ọc s.inh lớp 1 t.ử v.ong khi b.ị bỏ quên trên xe đưa đón”, Trưởng phòng Giáo d.ục quận Cầu Giấy nói rằng, Tr.ường Gateway là trường quốc tế “tự phong”.

Cùng với cá.c d.iễn b.iến khá.c, vấn đề danh xưng trường quốc tế kh.iến dư luận quan tâm.

Những cá.ch hiểu phổ biến về trường quốc tế

Đầu tiên phải kể đến cá.c trường do c.ơ qu.an ngoại giao thành lập như Tr.ường Quốc tế Liên Hợp Quốc Hà Nội (UNIS) – ngôi trường được thành lập bởi Liên Hiệp Quốc và Chính phủ Việt Nam, giảng dạy theo Chương trình IB và có mức học phí khoảng 500 triệu/năm.

Hay như Tr.ường Quốc tế Pháp Alexandre Yersin (LFAY) – ngôi trường nằm dưới sự quản lý trực tiếp của C.ơ qu.an Giáo d.ục Pháp, học theo chương trình giáo d.ục của Pháp và có mức học phí hơn 170 triệu/ năm, …

TS Vũ Thị Phương Anh, một nhà ngh.iên c.ứu về giáo d.ục quốc tế, cho biết, trên thế giới hiện nay đang tồn tại một số cá.ch hiểu khá.c nhau về “trường quốc tế chuẩn”, trong đó có 2 cá.ch hiểu phổ biến nhất.

Cá.ch hiểu thứ nhất hẹp hơn, xem “trường quốc tế” là trường được t.ổ ch.ức Tú tài quốc tế (International Baccalaureate, viết tắt là IB) ủy quyền giảng dạy  chương trình của m.ình.

Một trường m.uốn được ủy quyền phải đ.áp ứng những điều kiện khắt khe và trải qua quá trình tư vấn, giá.m s.át và đ.á.nh giá ngh.iêm ngặt.

Một số đ.ặc đ.iểm chính của chương trình IB b.ao gồm (1) được giảng dạy bằng một trong 3 ngôn ngữ phổ biến trên thế giới là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha; (2) có mục tiêu đào tạo ng.ười học thành c.ô.ng dân toàn cầu, có tư duy mở và có hiểu biết rộng rãi về thế giới; (3) chương trình học được c.ô.ng nh.ận toàn cầu và h.ọc s.inh có thể dễ dàng chuyển từ trường này sang trường khá.c.

Cá.ch hiểu thứ 2 dựa trên định nghĩa của Hội Sự ngh.iệp Thư viện Tr.ường học quốc tế (IASL). Theo đó, “trường quốc tế” b.ao gồm nhiều đ.ặc đ.iểm l.iên qu.an đến môi trường học tập, chương trình giảng dạy và văn b.ằng ch.ứng chỉ.

Cụ thể, môi trường học tập là môi trường đa văn hóa, đa ngôn ngữ, trong đó h.ọc s.inh và gi.áo v.iên thuộc nhiều quốc tịch khá.c nhau, nói cá.c ngôn ngữ khá.c nhau, và thường xuyên d.i ch.uyển.

Ngôn ngữ sử d.ụng trong giảng dạy là tiếng Anh hoặc song ngữ (gồm tiếng Anh và ngôn ngữ địa phương).

Chương trình giảng dạy sử d.ụng chương trình quốc tế như IB hoặc cá.c chương trình xuất phát từ một quốc gia nhưng được c.ô.ng nh.ận rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới (ví d.ụ: Cambridge, Edexcel…).

Văn bằng, chứng chỉ được k.iểm s.oát th.ô.ng qua cá.c kỳ thi do chính cá.c t.ổ ch.ức quốc tế c.ung c.ấp (ví d.ụ: AP, IGCSE, Cambridge, IB DP…), hoặc được th.ẩm đ.ịnh và c.ô.ng nh.ận bởi cá.c t.ổ ch.ức kiểm định hoặc hiệp hội giáo d.ục quốc tế (ví d.ụ: CIS, IBO, WASC,…)

TS Phương Anh cho rằng, trong cá.c yếu t.ố trên, yếu t.ố đ.ầu tiên có thể có những du di m.ức đ.ộ khá.c nhau (chẳng hạn, trường quốc tế nhưng hầu như chỉ có h.ọc s.inh Việt Nam), nhưng một trường quốc tế nhất thiết phải dạy bằng ngôn ngữ quốc tế, nội dung có tính quốc tế và văn b.ằng ch.ứng chỉ được quốc tế c.ô.ng nh.ận. Tuy nhiên, theo những cá.ch nhìn nh.ận khắt khe khá.c thì một trong những yếu t.ố làm nên t.ính ch.ất “quốc tế” của trường học là phải có sự đa dạng quốc tịch của h.ọc s.inh.

Tr.ường quốc tế dạy chương trình gì?

Theo thống kê của CIS – Hội đồng cá.c trường quốc tế – một t.ổ ch.ức uy tín về giáo d.ục quốc tế, có 14 chương trình quốc tế đang được giảng dạy phổ biến, gồm: GCE Advance Level (Alevel), Advance Placement (AP), Advance International Certificate of Education (AICE), Advance Subsidiary (AS Level), Genaral Cert of Sec.ondary Education (GCSE), IB Related Programme (CP),  IB Diplomma Programme (DP), International Programme Curiculum (IPC),  IB Middle Year Progamme (MYP), IB Primary Years Progamme (PYP), Cambridge ICGSE, International Middle Years Curiculum (IMYC), Monterssori và Cambridge-U.

Có thể thấy hầu hết chương trình này đều được xây dựng trên chương trình khung quốc gia của Anh (có định hướng mở) hoặc chương trình tú tài quốc tế IB.

Cá.c c.ơ qu.an quản lý ở Hà Nội và TP.HCM thì dùng cụm từ ” trường có yếu t.ố nước ngoài” để định danh kiểu trường này.

Trong danh sá.ch 21 trường có yếu t.ố nước ngoài được Sở GD-ĐT TP.HCM niêm yết trên website, dù là trường do nhà đ.ầu tư trong nước hay quỹ đ.ầu tư nước ngoài rót vốn, dù dạy theo chương trình Việt Nam hay chương trình của nước ngoài, hầu hết cá.c trường đều có chữ quốc tế trong tên gọi của m.ình (16/21 trường). Ở Hà Nội, một qu.an ch.ức giáo d.ục cho hay, Thủ đô có 11 trường quốc tế, trong khi  số trường gắn chữ “quốc tế” nhiều hơn thế.

Học phí quốc tế đắt đỏ ra sao?

Hai trường Tr.ường quốc tế Liên Hợp Quốc Hà Nội (UNIS) và Tr.ường Quốc tế Hà Nội (HIS) là những trường quốc tế dạy chương trình đa dạng như: IBDP, IBMYP, IBPYP.

Đây cũng là cá.c trường có mức học phí hàng năm lên tới 400-500 triệu đồng với bậc t.iểu học, 600-750 triệu đồng với cá.c bậc cao hơn. Cùng phân khúc học phí đó và dạy cá.c chương trình của Anh còn có Tr.ường Quốc tế Anh (BIS), Tr.ường Quốc tế Anh Việt (BVIS) và Tr.ường TH School. Còn ở TP.HCM phải kể đến Tr.ường Quốc tế Nam Sài Gòn, Tr.ường Quốc tế TP.HCM, Tr.ường Quốc tế Renaissance Sài Gòn,v.v…

Năm nay, ở Hà Nội xuất hiện thêm một trường quốc tế Malaysia dạy theo chương trình của Anh là Tr.ường Quốc tế ParkCity và học phí cũng thuộc hàng “đắt đỏ” t.ốp đ.ầu. Còn ở TP.HCM, một trường phổ th.ô.ng vừa được mở trong lòng trường ĐH (Tôn Đức Th.ắng) cũng có tên “quốc tế” là trường Quốc tế Việt Nam – Phần Lan.

Những trường “có yếu t.ố nước ngoài” thuộc loại hình trường tư thục và do đó kh.ô.ng b.ị kh.ống ch.ế mức trần học phí. Có thể nói, mức học phí này được điều tiết theo “thị trường bất đối xứng”. Thậm chí, cá.c nguyên tắc của kinh doanh được áp d.ụng triệt để. Thá.ng 6 vừa qua, một cơ sở của Tr.ường Quốc tế Singapore tại TP. Đà Nẵng thu “phí tiền cọc” b.ị phụ huynh phản đối vì cho rằng ngoài luật, thậm chí có yếu t.ố “chiếm d.ụng vốn”. Đại diện trường dẫn luật Dân sự ra và sau đó thì trường t.ừ ch.ối c.ung c.ấp dịch v.ụ giáo d.ục cho phụ huynh.

Tr.ường “có yếu t.ố nước ngoài” ở Việt Nam được kiểm định ra sao?

Một tiêu chí khá.c để x.em x.ét “t.ính ch.ất quốc tế” là cá.c trường gia nhập và được cá.c t.ổ ch.ức kiểm định về chất lượng giáo d.ục c.ô.ng nh.ận như thế nào.

Chẳng hạn, theo th.ô.ng tin trên website của Hội đồng cá.c trường quốc tế CIS, Hà Nội có 6 trường th.ành v.iên, trong đó 3 trường đã được t.ổ ch.ức này kiểm định; còn TP.HCM có tới 12 trường th.ành v.iên và 9 trường trong số đó đã được CIS kiểm định.

Cụ thể ở Hà Nội có cá.c trường Tr.ường Quốc tế Anh Việt (BVIS), Tr.ường quốc tế Liên Hợp Quốc Hà Nội (UNIS), Tr.ường Quốc tế Hà Nội (HIS) được kiểm định; 3 trường th.ành v.iên còn l.ại gồm Tr.ường Song Ngữ Liên Cấp Quốc Tế Gateway, Tr.ường Vinschool Times City và Tr.ường PTLC Vinschool The Harmony đang trong tiến trình chờ kiểm định.

Tại TP.HCM, 3 trường th.ành v.iên của CIS nhưng chưa được t.ổ ch.ức này kiểm định gồm: Tr.ường PTLC Vinschool Central Park, Tr.ường Quốc tế Á Châu và Tr.ường Quốc tế Bắc Mỹ.

Còn l.ại 9 trường th.ành v.iên được t.ổ ch.ức này kiểm định gồm:  Tr.ường Quốc tế Mỹ Việt Nam (AIS), Tr.ường Quốc tế Úc (AISVietn.am), Tr.ường quốc tế Anh (BIS), Tr.ường quốc tế Việt Anh, Tr.ường quốc tế Âu châu, Tr.ường quốc tế TP.HCM, ISHCMC – American Academy, Tr.ường quốc tế Sài Gòn Pearl (SSP), Tr.ường quốc tế Khai Sá.ng,

Có một số trường kh.ô.ng tham gia CIS và do CIS kiểm định, nhưng l.ại được kiểm định bởi những t.ổ ch.ức khá.c như Tr.ường Quốc tế Mỹ (TAS), Tr.ường Quốc tế Nam Sài Gòn (SSIS) được kiểm định bởi Hiệp hội cá.c trường Phổ th.ô.ng và Đại học miền Tây Hoa Kỳ (WASC).

Tr.ường song ngữ trong xu thế “quốc tế hoá”

Nếu như cụm từ “x.ã h.ội hoá giáo d.ục” xuất hiện phổ biến từ thời kinh tế mở cửa thì đến giờ, đi cùng với cá.c nhà đ.ầu tư giáo d.ục là cụm từ “quốc tế hoá”. Với t.ính ch.ất năng đ.ộng nhằm đ.áp ứng nhu cầu học tập đa dạng của phụ huynh, cá.c trường tư thục đã bổ sung chương trình bổ trợ bên cạnh việc b.ắt b.uộc giảng dạy theo chương trình của Bộ GD-ĐT.

Đó là cá.c chương trình song ngữ Cambridge – thường được biết tới với cái tên hệ Cam. Kh.ô.ng chỉ trường tư thục, một số trường c.ô.ng của Hà Nội còn được “mở cửa” để đưa chương trình song bằng vào. Kết th.úc phổ th.ô.ng, ngoài bằng THPT Việt Nam h.ọc s.inh còn tham gia cá.c kỳ thi để lấy chứng chỉ tú tài quốc tế Alevel. Chi phí đi học hằng năm ở cá.c trường này d.ao đ.ộng từ hơn 100 triệu đến 200 triệu đồng.

Có những trường về b.ản ch.ất là trường song ngữ như Gateway nhưng đăng ký tên là quốc tế và chủ đ.ộng tham gia vào hệ thống chờ kiểm định quốc tế.

Kh.ô.ng tham gia vào CIS, cũng chẳng gắn chữ quốc tế vào tên, nhưng một  trong những trường day song ngữ khá.c của Việt Nam sớm đón đ.ầu xu hướng “quốc tế hoá” là trường Nguyên Siêu đã chính thức gia nhập hệ thống cá.c trường phổ th.ô.ng quốc tế của ĐH Cambridge Vương quốc Anh (bậc Trung học và bậc Tiểu học) với mã số trường là VN236.

Có trường gắn từ quốc tế hẳn hoi, vào website của trường còn viết sai chính tả phần tiếng Việt (ví d.ụ phần giới thiệu có câu “Chương trình học giúp cá.c em kh.ô.ng nản trí khi thất bại”).

Để kể tới một b.iểu h.iện của xu hướng “quốc tế hoá” trong giáo d.ục phổ th.ô.ng, giới ngh.iên c.ứu còn x.em x.ét cả mô hình trường học mới VNEN (mô hình trường học Columb.ia) đã từng được triển kh.ai ở 4.400 trường trên toàn quốc.

Có lập lờ, láo nháo?

Vài năm qua, với những nỗ lực sửa đổi thể chế như mở rộng điều khoản của luật giáo d.ục, thay nhiều chính sá.ch của Nghị định 86, cá.c tập đoàn giáo d.ục đã chọn “trường quốc tế” như một đ.ầu tư ưu tiên. Cũng trong b.ối cảnh trường dá.n má.c quốc tế kh.ô.ng được giá.m s.át kịp thời, đã phát sinh chuyện  trường “ma” George Washington International School thò b.àn tay liên kết s.âu rộng, nhập nhèm má.c quốc tế để “móc túi” phụ huynh Việt Nam.

Vấn đề “tên trường quốc tế” kh.ô.ng chỉ là tr.anh c.ãi của riêng Việt Nam. Theo một nhà đ.ầu tư vừa mở trường quốc tế có phân khúc học phí cao cấp ở Hà Nội, thì tại Malaysia cũng có khoảng 200 trường có chữ “quốc tế”. Giới giáo d.ục nước sở tại khi nói chuyện với nhau cũng dùng cá.c khái nhiệm như “trường quốc tế nhái” nhằm chỉ vào cá.c trường có đội ngũ giảng viên chưa chuẩn xịn, dạy chương trình còn nửa quốc gia, nửa quốc tế.

Về điều này, TS Phương Anh cũng đề cập: “Từ thập niên 1990, UNESCO đã có nhiều c.ảnh b.áo với cá.c nước đang phát triển về vấn đề này. Họ đã cho xuất bản tài liệu miễn phí và t.ổ ch.ức nhiều hội thảo phổ biến rộng rãi đến cá.c nước thế giới thứ b.a về vấn đề cần “b.ảo v.ệ ng.ười tiêu dùng trong giáo d.ục xuyên biên giới” (c.onsumer protection in cross-border education). Rất t.iếc là cá.c nước này chưa quan tâm đầy đủ đến cá.c khuyến cáo của UNESCO”.

Đặc biệt, khi cá.c trường có danh quốc tế x.ảy r.a s.ự c.ố (như trường Newton liên kết với trường GWIS, hay trường Gateway để x.ảy r.a chuyện h.ọc s.inh t.ử v.ong) mới thấy ph.ản ứ.ng của cơ qu.an ch.ức năng chậm trễ và trá.nh né; cùng lắm là “ra mưa văn bản” hay nhắc l.ại những điều đã nói trong cá.c điều luật, nghị định, th.ô.ng tư.

Trong một b.ài ngh.iên c.ứu đăng trên tạp chí Tia Sá.ng “Quốc tế hoá giáo d.ục Việt Nam còn lung túng và ở thế yếu”, TS Đỗ Thị Ngọc Quyên nhìn nh.ận:

“Cá.c hoạt đ.ộng quốc tế hóa diễn ra tại Việt Nam có nhiều lý do và mục đích. Người học đi du học ngày càng nhiều, phụ huynh có xu hướng lựa chọn cá.c trường, chương trình có yếu t.ố quốc tế ở trong nước rõ ràng là do thiếu niềm tin vào chất lượng giáo d.ục nội địa ở mọi cấp bậc và sự sính ngoại, ưa chuộng giáo d.ục quốc tế. Từ phía cá.c c.ơ qu.an quản lý nhà nước và hoạch định chính sá.ch, việc đ.i t.ìm giải pháp từ cá.c mô hình, chính sá.ch ở bên ngoài biên giới phần nào ch.o th.ấy sự lúng túng trong việc tìm đường đi cho cải cá.ch và đổi mới. Đối với cá.c nhà quản lý giáo d.ục cấp cơ sở và cá.c nhà đ.ầu tư, kinh doanh giáo d.ục, việc gắn má.c “quốc tế” chủ yếu nhằm đ.á.nh vào mối quan tâm và thị hiếu của phụ huynh và ng.ười học”.

Theo b.à, đúng là quốc tế hóa có đem đến diện mạo mới và nhiều thay đổi, nhưng còn nhiều l.ộn xộn, chưa hẳn xuất phát vì chất lượng đào tạo và cũng chưa đem l.ại những kết quả đ.á.ng kể trong việc n.âng cao hiệu quả giáo d.ục.

Dù th.ừa nh.ận cá.c trường gắn má.c quốc tế kh.ô.ng sai vì dân được làm những gì luật pháp kh.ô.ng c.ấm, nhưng theo TS Phương Anh, vẫn cần có qu.y đ.ịnh về “danh xưng” trường quốc tế. Điều quan trọng hơn là cần lập một cơ sở dữ liệu cá.c “trường quốc tế” đã đăng ký với đầy đủ th.ô.ng tin về nội dung chương trình, ngôn ngữ giảng dạy; th.ô.ng tin về việc kiểm định hoặc c.ô.ng nh.ận quốc tế. Đồng thời, cần y.êu c.ầu cá.c trường quốc tế phải minh bạch cá.c th.ô.ng tin này trên website của m.ình và x.ử ph.ạt ngh.iêm những trường hợp v.i ph.ạm.

Chỉ khi nào có sự minh bạch th.ô.ng tin thì mới có được sự giá.m s.át toàn dân; lúc ấy mới có được sự phát triển lành mạnh đối với trường quốc tế tại Việt Nam.

Khi đưa câu hỏi “Trong giới ngh.iên c.ứu, vấn đề trường quốc tế nói riêng, xu hướng quốc tế hoá giáo d.ục đang có những vấn đề gì đ.á.ng chú ý đang được thảo luận?”, chúng tôi khá ng.ạc nhiên khi nh.ận được câu trả lời kh.ô.ng phải đề cập tới chương trình nọ hay bằng cấp kia, mà là thế này: “Do ả.nh h.ưởng của quá trình toàn cầu hóa và m.ạng internet, nhu cầu “trở thành c.ô.ng dân toàn cầu” ngày càng lớn, kể cả đối với những ng.ười học hầu như ít có điều kiện để sinh sống và làm việc ngoài đất nước nơi m.ình sinh ra,  nên “giáo d.ục quốc tế” ngày càng trở nên quan trọng và ngày càng được quan tâm. Theo cá.ch hiểu rộng nhất thì “giáo d.ục quốc tế” kh.ô.ng nằm ở cá.c yếu t.ố bên ngoài như phải sử d.ụng ngôn ngữ quốc tế, theo chương trình của nước ngoài, văn bằng do nước ngoài c.ô.ng nh.ận, mà cốt là ở nội dung và mục tiêu giảng dạy, miễn sao có thể góp phần phát triển ng.ười học trở thành một “c.ô.ng dân toàn cầu”, tức có hiểu biết về thế giới, tôn trọng cá.c giá trị văn hóa khá.c nhau ….”

Chúng tôi l.ại nhớ đến v.ụ khủng hoảng mà trường Gateway đang gặp phải. Dù đang nỗ lực hội nhập quốc tế với sự hiện diện thầy Tây, chương trình quốc tế, nhưng trong cá.ch gi.ải qu.yết của chủ trường, của b.ộ ph.ận quản lý và cá.c c.ơ qu.an quản lý, những giá trị xuyên biên giới của “c.ô.ng dân toàn cầu” – cũng là giá trị bất biến của mọi nền giáo d.ục như lòng trắc ẩn, sự t.ử tế và sự trung thực, tính minh bạch…l.ại chưa có cơ hội được th.ể h.iện, để “hội nhập quốc tế”.

Hạ Anh – Th.úy Nga – Lê Huyền, theo Vietn.amnet

Load More In Giáo dục

Leave a Reply

Check Also

TS Trần Du Lịch: ‘Cứ phân lô bá.n nền, Đà Nẵng kh.ô.ng thể phát triển’

Theo TS Trần Du Lịch, quy hoạch của Đà Nẵng phải có kh.ô.ng gian c.ô.ng cộng, cây xanh. Cò…