Home Thời sự Lún ở TP HCM đến mức b.áo đ.ộng

Lún ở TP HCM đến mức b.áo đ.ộng

21 min read
0
0
61

Lún ở TP HCM ngày càng d.iễn b.iến ph.ức t.ạp, có ng.uy c.ơ đe d.ọa đến hạ tầng đô thị lẫn cá.c c.ô.ng trình ngầm

Tình trạng lún ở TP HCM đã được c.ảnh b.áo từ nhiều năm qua, dù nhiều giải pháp để hạn chế đã được th.ực h.iện nhưng thực tế lún vẫn diễn ra ngày càng ph.ức t.ạp. Tốc độ lún sụt nhanh kh.iến cá.c b.an, ngành ch.ức n.ăng của TP đặt ra nhiều lo ng.ại.

Những c.on số g.ây gi.ật m.ình

Nghiên c.ứu quan trắc biến dạng mặt đất khu vực TP HCM do TS Lê Văn Trung và Hồ Tống Minh Định th.ực h.iện đã đưa ra c.on số gi.ật m.ình. Khu vực cá.c quận 2, 7 và Bình Thạnh, bề mặt đất lún biến dạng khoảng hơn 20 cm. Thấp hơn là mức biến dạng lún 15 – 20 cm ở quận 1, 3, 4, 5, 8, 9, 12, quận Gò Vấp, huyện Bình Chá.nh; khu vực biến dạng lún 10 – 15 cm ở cá.c quận 6, 10, 11, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú, Phú Nhuận, Gò Vấp, Thủ Đức và huyện Bình Chá.nh. Huyện có mức biến dạng bề mặt ít nhất là Hóc Môn với mức lún 5 – 10 cm.

Tình trạng lún mặt đất kh.iến nhiều tuyến đường ở TP HCM đã ng.ập càng thêm ng.ập Ảnh: GIA MINH

Báo đ.ộng hơn là ngh.iên c.ứu “Tính toá.n thành phần lún do kh.ai thá.c nước ngầm theo tài liệu địa chất th.ủy văn – địa chất c.ô.ng trình ở TP” của TS Tạ Thị Thoảng, Tr.ường ĐH Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) Hà Nội, th.ực h.iện đã dự báo ở khu vực trung tâm TP nếu duy trì kh.ai thá.c nước ngầm như giai đoạn 1999-2009 thì lún do kh.ai thá.c nước ngầm cộng d.ồn lớn nhất cho cá.c năm 2020, 2040 và 2100 lần lượt là 63,8 cm, 85,2 cm và 97,6 cm.

Còn kết quả ngh.iên c.ứu đo đạc s.ụt l.ún đất do Bộ TN-MT th.ực h.iện trong giai đoạn 2014, 2015 và 2017 với 339 mốc đo ở TP và ĐBSCL so với giá trị cao độ đo năm 2005 ch.o th.ấy 306 mốc lún, 33 mốc kh.ô.ng lún hoặc n.âng. Trong 306 mốc lún, m.ức đ.ộ lún biến đổi từ 0,1 – 81,4 cm, trung bình 12,3 cm. Mức độ lún nhất ở phường An Lạc, quận Bình Tân, TP với 81,4 cm. Điều đ.á.ng lo ng.ại là lún đang diễn ra với t.ốc độ cao, như phường An Lạc khoảng 6,8 cm/năm.

Ông Hoàng Văn Bẩy, C.ục tr.ưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước thuộc Bộ TN-MT, nói có 2 nh.óm ng.uyên nh.ân g.ây lún. Một là, do tự nhiên, gồm s.ụt l.ún do yếu t.ố địa chất (s.ụt l.ún này có thể x.ảy r.a kh.ô.ng đều, theo cá.c khối địa chất, thậm chí có khối địa chất còn n.âng lên), lún do yếu t.ố địa kỹ thuật (cá.c lớp đất sét yếu dần b.ị nén chặt) – đây là vấn đề kh.ô.ng thể đảo ngược nhưng đang giảm dần. Hai là, yếu t.ố nh.ân t.ạo như suy giảm phù sa, hoạt đ.ộng xây dựng c.ô.ng trình tập trung; độ rung do hoạt đ.ộng giao th.ô.ng vận tải; kh.ai thá.c nước dưới đất quá mức.

Đe d.ọa hạ tầng đô thị

PGS-TS Lê Văn Trung, Chủ nhiệm Bộ môn Hệ thống th.ô.ng tin TN-MT Tr.ường ĐH Bá.ch kh.oa, Phó Ch.ủ t.ịch Hội Trắc địa – Bản đồ TP, nh.ận định hiện tượng s.ụt l.ún mặt đất đã góp phần gia tăng t.ình tr.ạng ng.ập lụt đô thị, một số tuyến đường được xây dựng cao hơn mực nước triều nhưng vẫn cứ ng.ập vì b.ị lún đất. Ông cho rằng dù th.eo qu.y đ.ịnh, cao độ nền hiện nay trên địa b.àn TP là 2 m nhưng trong khu vực nội thành vẫn còn nhiều tuyến đường có cao trình dưới 1,6 m. Cá.c c.ô.ng trình giao th.ô.ng và khu vực dân cư mới được xây dựng có cao độ nền dưới 2 m do tham chiếu độ cao mốc quốc gia đã b.ị lún để làm số liệu gốc thi c.ô.ng. Thực tế, độ cao mốc b.ị hạ thấp từ 0,3 m đến 0,5 m so với số liệu được cấp nên ả.nh h.ưởng rất lớn giữa thiết kế và thi c.ô.ng cá.c c.ô.ng trình.

Theo PGS-TS Lê Văn Trung, cao độ nền ngày càng thấp đi do ả.nh h.ưởng lún mặt đất, kết hợp với mức th.ủy triều ngày càng dâng cao (triều cường đạt đỉnh gần 1,7 m) do biến đổi của khí hậu. Vì vậy, những h.ậu qu.ả của hiện tượng lún mặt đất là kh.ôn lường. Đơn cử, đối với cá.c c.ô.ng trình xây dựng dân d.ụng hay hạ tầng, kh.ô.ng chỉ ngốn rất nhiều chi phí chống lún, đ.á.ng lo hơn là chất lượng c.ô.ng trình và sự a.n t.oàn của những ng.ười sử d.ụng c.ô.ng trình. “Do đó, để ch.ống ng.ập cho TP – vấn đề được nhiều ng.ười quan tâm – trong điều kiện lún ngày càng b.áo đ.ộng, đ.òi hỏi tiêu chuẩn th.oát nước và ch.ống ng.ập phải tính đến ả.nh h.ưởng đồng thời của sự hạ thấp mặt đất và sự dâng cao của mực nước biển. Quy hoạch th.oát nước cần x.á.c định chính x.á.c hiện trạng cao độ nền, vùng ng.ập l.iên qu.an triều cường, để có giải pháp ph.òng ch.ống hiệu quả” – PGS-TS Lê Văn Trung nhấn mạnh.

B.ắt đ.ầu trám lấp giếng kh.oan

Bộ TN-MT nhìn nh.ận đối với cá.c vùng có m.ức đ.ộ lún cao trên 10 cm thì mật độ kh.ai thá.c nước ngầm lớn (111 m3/ngày/km2). Đối với cá.c vùng lún dưới 5 cm và từ 5-10 cm thì mật độ kh.ai thá.c l.ại có xu hướng ngược l.ại là 65 so với 58 m3/ngày/km2. Tuy nhiên, nếu xét cụ thể tại một số khu vực với phạm vi nhỏ thì một số nơi có mật độ kh.ai thá.c nước ngầm rất lớn như cá.c quận: 12, Tân Phú; Tân Bình, Bình Tân, Gò Vấp và huyện Hóc Môn có mật độ kh.ai thá.c 3.650 m3/ngày/km2.

Trong khi đó, theo thống kê, TP có khoảng 100.000 giếng kh.oan c.ung c.ấp một lượng nước khá lớn. Chính vì thế, từ đ.ầu thá.ng 6-2019, TP b.ắt đ.ầu trám lấp một số giếng kh.oan của ng.ười dân thay thế bằng nguồn nước sạch.

Cô.ng ty CP Cấp nước Gia Định cho biết đang ph.ối h.ợp với l.ãnh đ.ạo cá.c địa phương trên địa b.àn, vận đ.ộng ng.ười dân trám lấp giếng kh.oan, sử d.ụng nước máy. Cô.ng ty sẽ vận đ.ộng khoảng 2.000 hộ dân trám lấp giếng kh.oan và năm sau c.on số này sẽ là 3.000 hộ. Năm năm tiếp theo, từ 2021 – 2025, c.ô.ng ty sẽ vận đ.ộng 12.000 hộ dân thôi dùng giếng kh.oan để chuyển qua sử d.ụng nước sạch.

Kịch bản cần lưu tâm

Theo kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ TN-MT xây dựng thì đến năm 2100, mực nước biển sẽ dâng thêm từ 70 – 100 cm, gần 18% diện tích TP HCM sẽ b.ị ng.ập. Thế nhưng, do hiện tượng lún nền đất, diện tích ng.ập có thể tăng cao hơn c.on số này. Đồng thời, tại cá.c khu vực gần biển, việc kh.ai thá.c nước ngầm quá mức còn g.ây ra xâm nhập mặn vào cá.c tầng chứa nước, tá.c đ.ộng tiêu cực đến cây trồng…

PHAN ANH, theo Người Lao Động

Load More In Thời sự

Leave a Reply

Check Also

Hai xe ôtô k.éo nhau, dây xích đ.ứt kh.iến một ng.ười t.ử v.ong

Ngày 23/8, tại địa ph.ận xóm Bản Sao, xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, x.ảy r.a m…